Tên thương mại là gì? Bảo hộ tên thương mại có cần phải đi đăng ký? Điều kiện bảo hộ tên thương mại

Thứ ba - 18/01/2022 11:30
Tên thương mại là gì và hành vi nào được xem là xâm phạm tên thương mại theo quy định mới nhất. Tên thương mại là tên gọi được sử dụng nhiều trong hoạt động kinh doanh. Mặc dù được pháp luật bảo vệ nhưng việc bảo hộ tên thương mại lại có điểm khác so với các đối tượng như nhãn hiệu hay sáng chế.
Tên thương mại là gì? Bảo hộ tên thương mại có cần phải đi đăng ký? Điều kiện bảo hộ tên thương mại
Tên thương mại là gì?

Theo khoản 21 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Khu vực kinh doanh là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.

Sử dụng tên thương mại là việc thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo. Lưu ý: Chủ sở hữu tên thương mại phải là tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp tên thương mại đó trong hoạt động kinh doanh.

Tên thương mại lần đầu tiên được đề cập đến như một đối tượng sở hữu trí tuệ trong Điều 2 của Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ký ngày 14/7/1967:

    Sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền liên quan đến các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; các cuộc biểu diễn của nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và các chương trình phát sóng; các sáng chế trong tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người; các khám phá khoa học; các kiểu dáng công nghiệp; các nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ và các tên thương mại; bảo hộ chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh…

Ngày nay, việc phân định này cũng rõ ràng hơn khi tên thương mại được sắp xếp nằm trong các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, một trong những quyền sở hữu trí tuệ, song song với quyền tác giả và quyền liên quan.

Tên thương mại chưa có một định nghĩa quốc tế

Mặc dù việc bảo hộ tên thương mại được chú trọng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới bởi ý nghĩa của tên thương mại là không thể phủ nhận, tuy nhiên khác với nhãn hiệu, tên thương mại chưa có một khái niệm pháp lý chung trong bất kỳ điều ước quốc tế đa phương nào. Văn bản pháp lý đa phương duy nhất đề cập đến việc bảo hộ tên thương mại là Công ước Paris, tuy nhiên ngoài quy định tại Điều 8: “Tên thương mại được bảo hộ ở tất cả các nước thành viên của Liên minh mà không bị bắt buộc phải nộp đơn hoặc đăng ký, bất kể tên thương mại đó có hay không là một phần của một nhãn hiệu hàng hoá.” thì không có bất cứ quy định cụ thể về thế nào là tên thương mại hay bảo hộ tên thương mại dưới cơ chế như thế nào, điều kiện bảo hộ ra sao. Do vậy, việc quy định về bảo hộ tên thương mại rất khác nhau ở các quốc gia thành viên.

Trong cuốn sách nhỏ giới thiệu về Sở hữu trí tuệ được soạn thảo và xuất bản bởi Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) mang tên “Understanding Intellectual Property”, tên thương mại được gọi bằng thuật ngữ “Commercial name” hay “trade name” và được hiểu là “the name or designation that identifies an enterprise” (tạm dịch là một cái tên dùng để nhận biết một doanh nghiệp). Cũng trong cuốn giới thiệu này, WIPO cũng đề cập đến việc tên thương mại có thể được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, như đề cập ở trên, theo Điều 8 của Công ước Paris thì tên thương mại phải được bảo hộ mà không có nghĩa vụ đăng ký.

Việc bảo hộ nói chung có nghĩa là tên thương mại của một doanh nghiệp không thể được sử dụng bởi doanh nghiệp khác dù việc sử dụng đó với tư cách một tên thương mại hay nhãn hiệu dịch vụ; và bảo hộ tên thương mại cũng có nghĩa là không có một doanh nghiệp nào khác có thể sử dụng tên tương tự với tên thương mại có khả năng gây nhầm lẫn cho công chúng.

Định nghĩa tên thương mại của Việt Nam

Khái niệm tên thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Điều 4 Luật SHTT 2009 lại khá chi tiết:

    Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.

Định nghĩa trên có ưu điểm là nêu bật được bản chất của tên thương mại, đó chính là tên gọi để phân biệt các chủ thể kinh doanh khác nhau trong cùng lĩnh vực kinh doanh và khu vực kinh doanh đồng thời bao quát được cả điều kiện bảo hộ của tên thương mại. Tuy nhiên việc đề cập đến cả định nghĩa về khu vực kinh doanh trong quy định chung này khiến cho khái niệm tên thương mại trở nên cồng kềnh.

Như vậy, tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh dùng nhận biết chính nó đối với các chủ thể kinh doanh khác, và được bảo hộ khi nó có khả năng phân biệt các chủ thể kinh doanh khác nhau trong cùng khu vực và lĩnh vực kinh doanh.

Vai trò của tên thương mại

(i) Chức năng chỉ dẫn thương mại, cụ thể là chỉ dẫn nguồn gốc hàng hóa/dịch vụ.

Tên thương mại là tên gọi của cá nhân, tổ chức dùng trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy, tên thương mại luôn gắn liền với sự tồn tại của cá nhân và tổ chức có hoạt động kinh doanh và nó chính là phương tiện giao tiếp đầu tiên giữa doanh nghiệp và các chủ thể khác.

Như đã phân tích trong phần chức năng của nhãn hiệu, tên thương mại cũng là một trong những chỉ dẫn thương mại, bởi tên gọi của chủ thể kinh doanh luôn được sử dụng để gắn trên sản phẩm và biểu trưng của chủ thể cung cấp hàng hóa/dịch vụ nhằm chỉ dẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ. Tuy vậy, chức năng này của tên thương mại được thực hiện theo một cách hoàn toàn khác với nhãn hiệu.

Nếu như nhãn hiệu chỉ đưa đến một chỉ dẫn khá mơ hồ về nguồn gốc của hàng hóa/dịch vụ thì tên thương mại lại đem đến thông tin cụ thể hơn rất nhiều về cơ sở kinh doanh chịu trách nhiệm về sản phẩm. Đôi khi người tiêu dùng chỉ có nhận thức rằng hai sản phẩm mang nhãn hiệu đó là cùng một nguồn gốc và với kinh nghiệm tiêu dùng sản phẩm trước, người tiêu dùng đưa ra quyết định lựa chọn sản phẩm mới này. Còn đối với tên thương mại, người tiêu dùng hoàn toàn có thể căn cứ vào tên thương mại được gắn trên sản phẩm để xác định một cách cụ thể là hàng hóa dịch vụ đó của cơ sở sản xuất kinh doanh nào.

Chức năng này xuất phát từ đặc tính của tên thương mại chính là thông tin đến các chủ thể kinh doanh khác cũng như người tiêu dùng về lĩnh vực kinh doanh của mình. Chức năng này càng đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợp người tiêu dùng chưa từng biết đến sản phẩm được đưa ra thị trường, tuy nhiên chỉ cần tin tưởng vào uy tín của doanh nghiệp cung ứng ra thị trường và nhận biết nguồn gốc của sản phẩm thông qua tên thương mại là đã đủ để đưa ra quyết định tiêu dùng. Chính vì lẽ đó, việc tạo lập, duy trì và phát triển một tên thương mại có vai trò vô cùng lớn lao đối với doanh nghiệp.

(ii) Chức năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Tên thương mại cũng giống như nhãn hiệu ở chức năng phân biệt nhưng nó phân biệt chính bản thân chủ thể kinh doanh với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh chứ không phải sản phẩm/dịch vụ mà chủ thể kinh doanh đó cung cấp. Mặc dù chức năng này cũng xuất phát từ đặc tính cung cấp thông tin đã được đề cập trong phần trên, tuy nhiên đây lại là chức năng chính của tên thương mại. Chức năng này chính là tiêu chí chính để phân biệt tên thương mại với các chỉ dẫn thương mại khác như nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý.

Để đạt được chức năng phân biệt này, tên thương mại xác lập vị thế của nó thông qua việc sử dụng trên thực tế. Tên thương mại cũng được coi là một trong những biểu trưng của doanh nghiệp, bởi chính nhờ vào đó mà công chúng phân biệt được doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí tên thương mại còn là biểu hiện cho danh tiếng và uy tín của cả doanh nghiệp.

Điều kiện để bảo hộ tên thương mại?

Căn cứ Điều 76 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định điều kiện chung đối với tên thương mại được bảo hộ, cụ thể:

Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Bên cạnh đó, khả năng phân biệt của tên thương mại tại Điều 78 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, cụ thể:

Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng;

- Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh;

- Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.

Lưu ý: Tên thương mại mặc dù là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nhưng không được bảo hộ dưới hình thức cấp văn bằng. Tên thương mại không cần phải tiến hành thủ tục đăng ký bảo hộ tại Cục Sở hữu trí tuệ mà được công nhận thông qua việc sử dụng trong hoạt động kinh doanh.

Theo Điều 77 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại bao gồm:

Tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ thể khác không liên quan đến hoạt động kinh doanh thì không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại.
Hành vi xâm phạm tên thương mại quy định thế nào?

Căn cứ tại Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý như sau:

- Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

+ Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;

+ Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

+ Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

+ Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

- Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại.

- Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ:

+ Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm mặc dù có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý, nhưng sản phẩm đó không đáp ứng các tiêu chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý;

+ Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm tương tự với sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý nhằm mục đích lợi dụng danh tiếng, uy tín của chỉ dẫn địa lý;

+ Sử dụng bất kỳ dấu hiệu nào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó làm cho người tiêu dùng hiểu sai rằng sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó;

+ Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ đối với rượu vang, rượu mạnh cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó, kể cả trường hợp có nêu chỉ dẫn về nguồn gốc xuất xứ thật của hàng hoá hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm hoặc được sử dụng kèm theo các từ loại, kiểu, dạng, phỏng theo hoặc những từ tương tự như vậy.

Quyền của chủ sở hữu tên thương mại

Quyền sở hữu tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký tên thương mại đó tại Cục sở hữu trí tuệ.

Chủ sở hữu tên thương mại có quyền:

    Sử dụng tên thương mại vào mục đích kinh doanh;
    Thể hiện tên thương mại đó trong các giấy tờ giao dịch, hàng hóa, bao bì sản phẩm, quảng cáo;
    Chuyển giao tên thương mại cho người khác ;
    Yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm tên thương mại;

Tên thương mại được bảo hộ cho đến khi chủ sở hữu tên thương mại còn hoạt động kinh doanh dưới tên đó.

Hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại

Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại.

Biện pháp hành chính là biện pháp trong đó chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có thể yêu cầu một trong các cơ quan nhà nước sau đây xử lý hành vi xâm phạm quyền:

    Uỷ ban nhân dân ở cấp huyện và cấp tỉnh;
    Thanh tra của Bộ Khoa học và Công nghệ (thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ);
    Thanh tra về Văn hóa và Thông tin (thuộc Bộ Văn hóa Thông tin);
    Lực lượng Quản lý thị trường (thuộc của Bộ Công thương);
    Các cảnh sát kinh tế (thuộc Bộ Công an).

Các biện pháp hành chính sau đây có thể được áp dụng là cảnh cáo và phạt tiền, tuy nhiên, tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

– Tịch thu hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu,  phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ;

– Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm.

– Buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;

– Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá.

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính.

Trong các trường hợp mà hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội; tang vật vi phạm có nguy cơ bị tẩu tán hoặc cá nhân, tổ chức vi phạm có biểu hiện trốn tránh trách nhiệm; hoặc để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính.

Bên cạnh 03 biện pháp nêu trên, chủ sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp biên giới với cáo buộc hàng hóa vi phạm, dù là hàng hóa nhập khẩu hay xuất khẩu qua biên giới Việt Nam.

Đây được coi là biện pháp kịp thời mà chủ sở hữu trí tuệ có thể sử dụng để ngăn chặn hành vi vi phạm và cần phải có đầy đủ chứng cứ chứng minh mình là chủ sở hữu hợp pháp, cung cấp đầy đủ thông tin để xác định hàng hóa bị xâm phạm. Tuy nhiên, chủ sở hữu SHTT có thể phải đối mặt với nguy cơ bị kiện lại nếu không chứng minh và đưa ra được các chứng cứ cho việc hàng hóa của họ bị xâm phạm.

Chủ sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp kiểm soát biên giới sau:

– Kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

– Đình chỉ thủ tục hải quan theo yêu cầu của chủ sở hữu trí tuệ trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan, nếu có lý do chính đáng thì thời hạn này có thể kéo dài, nhưng không được được quá 20 ngày làm việc.

– Đối với các yêu cầu cơ quan Hải quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp kiểm soát biên giới, chủ sở hữu trí tuệ có nghĩa vụ:

    Chứng minh rằng họ là chủ sở hữu trí tuệ;
    Cung cấp đầy đủ thông tin để xác định hàng hoá/ sản phẩm xuất nhập khẩu đã xâm phạm;
    Gửi yêu cầu áp dụng các biện pháp kiểm soát biên giới và nộp lệ phí theo quy định của pháp luật;
    Bồi thường thiệt hại do việc áp dụng các biện pháp biên giới.
Các hành vi xâm phạm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 170 và 171 của Bộ luật hình sự) sẽ được áp dụng các biện pháp hình sự sau đây:

    Cảnh cáo;
    Phạt tiền;
    Phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm;
    Phạt tù từ 6 tháng đến 20 năm hoặc tù chung thân hoặc tử hình;

Bên cạnh đó, chủ sở hữu quyền SHTT có thể yêu cầu các biện pháp trừng phạt bổ sung sau:

    Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản;
    Cấm đảm nhiệm vị trí chức vụ trong một thời gian nhất định từ 1 đến 5 năm.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Đăng kí tư vấn


Kiến thức pháp luật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây