NHƯ THẾ NÀO LÀ VI PHẠM HỢP ĐỒNG, VÀ CÁCH THỨC ĐỂ ĐÒI LẠI QUYỀN LỢI CỦA MÌNH

Thứ bảy - 21/11/2020 08:33
Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp/chủ doanh nghiệp, thậm chí là những hộ gia đình kinh doanh nhỏ lẻ, các cá nhân tự kinh doanh đều gặp phải các vấn đề trong quá trình kinh doanh như:
Vi phạm hợp đồng
Vi phạm hợp đồng

-  Thỏa thuận ký kết hợp đồng, đã thỏa thuận như thế, nhưng bên kia lại không thực hiện hoặc thực hiện không đúng.

- Bên kia giao hàng không đồng bộ, không đầy đủ, không đúng thời gian theo hợp đồng.- Bên kia cố tình kéo dài hoặc không thanh toán dẫn đến bên còn lại bị thiệt hại…Và bên bị vi phạm, bị thiệt hại quyền yêu cầu bên kia phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ/bồi thường không?

Phải làm gì để “đòi lại công bằng” cho mình/doanh nghiệp mình?…Để giúp các doanh nghiệp/hộ kinh doanh/cá nhân…. hiểu rõ hơn về các vấn đề nêu trên. Chúng tôi xin được nêu, phân tích một số quy định của pháp luật có liên quan và một vài hướng giải quyết để giúp giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và hiểu quả nhất.

Trước hết, theo quy định của pháp luật mà cụ thể là tại điều 351 BLDS 2015: “Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung nghĩa vụ”.

Theo quy định tại khoản 12 điều 3 Luật thương mại 20205: “Vi phạm hợp đồng là một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của luật này”.

Vậy, chế tài của pháp luật đối với các trường hợp vi phạm nghĩa vụ là gì?

– Cũng theo điều 351 BLDS 2015 đối với việc vi phạm nghĩa vụ thì:

“Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền…

Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”.

Và tùy vào việc bên có nghĩa vụ vi phạm như thế nào để áp dụng các biện pháp cụ thể. Các biện pháp đó có thể là: Buộc bên có nghĩa vụ giao vật đặc định không được thực hiện thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật… trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ giao vật.

Hoặc, buộc phải trả lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của BLDS 2015….

– Đối với các hợp đồng thương mại (tức là có hợp đồng do các thương nhân ký với nhau hoặc thương nhân ký với một bên khác thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi) cũng quy định bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm của mình gây ra.

Các chế tài đặt ra cho những vi phạm về nghĩa vụ sẽ bao gồm:

“+ Buộc thực hiện đúng hợp đồng.

+ Phạt vi phạm.

+ Buộc bồi thường thiệt hại.

+ Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.

+ Đình chỉ thực hiện hợp đồng.

+ Huỷ bỏ hợp đồng.

+ Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế” (điều 292 Luật thương mại 2005).

Đối với các chế tại trong các hợp đồng thương mại, Chúng tôi chỉ phân tích vào một số chế tài nổi bật như sau:

* Phạt vi phạm hợp đồng: Là hình thức chế tài áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng, theo đó bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt theo quy định trong hợp đồng.

Chế tài phạt vi phạm  hợp đồng có mục đích chủ yếu là trừng phạt, tác động vào ý thức của các chủ thể hợp đồng nhằm giáo dục ý thức tôn trọng hợp đồng, phòng ngừa vi phạm hợp đồng. Điều 418 BLDS 2015 quy định thoả thuận phạt vi phạm: Là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp các bên có thoả thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phạt vi phạm hợp đồng”.

Mức tiền phạt vi phạm hợp đồng bị giới hạn bởi thoả thuận về mức phạt của các bên trong hợp nhưng không được vượt quá mức phạt do pháp luật quy định. Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng kinh doanh, thương mại hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm; Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước, mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm.

* Bồi thường thiệt hại: Là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra. Khác với phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài được áp dụng nhằm khôi phục, bù đắp những lợi ích vật chất bị mất của bên bị vi phạm hợp đồng kinh doanh, thương mại; ngoài ra bên vi phạm còn phải bồi thường tổn thất tinh thần cho bên bị vi phạm.

Vì vậy, bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi có thiệt hại xảy ra, và có đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường: Có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại thực tế; hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Về nguyên tắc, bên vi phạm phải bồi thường toàn bộ những thiệt hại vật chất cho bên bị vi phạm bao gồm: Giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra; Khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Theo đó bên yêu cầu bồi thường thiệt hại có nghĩa vụ phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không bị vi phạm hợp đồng. Bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm bồi thường khi không thực hiện được nghĩa vụ hoàn toàn do lỗi của bên có quyền, theo khoản 3 Điều 351 BLDS năm 2015 quy định “Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”. Điều 419 BLDS năm 2015 quy định: “1. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này; 2. Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại; 3. Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”.

* Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng.

+ Tạm ngừng thực hiện hợp đồng thương mại: Là việc bên bị vi phạm tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực. Ví dụ: Tạm ngừng thanh toán tiền, tạm ngừng việc giao hàng, nhận hàng, tạm ngừng quảng cáo…đến khi bên vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm hoặc khắc phục hậu quả do vi phạm hợp đồng thì bên có quyền tiếp tục thực hiện hợp đồng.

+ Đình chỉ thực hiện hợp đồng: Là bên bị vi phạm  chấm dứt thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng trong kinh doanh, thương mại với bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng. Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ, các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng theo nghĩa vụ mà bên có quyền đã thực hiện.

+ Huỷ bỏ hợp đồng: Là sự kiện pháp lý mà hậu quả của nó làm cho nội dung hợp đồng bị hủy bỏ một phần hợp đồng hoặc toàn bộ hợp đồng không còn hiệu lực từ thời điểm giao kết. Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực. Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng, khi đó thì hợp đồng được coi là không có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp. Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền (Tức là trong trường hợp này các bên phải giải quyết hậu quả của hợp đồng bị huỷ bỏ nếu có).

Cũng cần lưu ý là chế tài này chỉ được áp dụng khi có thoả thuận của các bên trong hợp đồng,…

Khi phát hiện ra mình bị vi phạm nghĩa vụ, các bạn có thể trực tiếp yêu cầu bên vi phạm tiếp tục thực hiện/thực hiện đúng nghĩa vụ đối với bạn.

Nếu bên vi phạm vẫn không thực hiện theo yêu cầu, thì tùy trường hợp đó là vi phạm gì; mức độ như thế nào; hợp đồng, pháp luật quy định ra sao để có biện pháp xử lý phù hợp.

Có thể là thông qua một bên thứ 3 nào đó để dàn xếp, thường lượng; hoặc khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại tại tòa án có thẩm quyền; hoặc giải quyết tranh chấp thông qua hình thức trọng tài viên, hòa giải viên…

Để tránh lúng túng và không lãng phí thời gian, tiền bạc, đầu óc vào những vụ việc tranh chấp “đã rồi” thì tốt nhất các bạn hãy tìm đến các chuyên gia, các Luật sư… để được tư vấn và hỗ trợ sớm nhất.

Chúng tôi tin rằng, với đội ngũ Luật sư/Chuyên viên pháp lý hiểu biết về luật pháp, có kinh nghiệm dày dặn có được nhờ đã từng làm việc với rất nhiều đối tác, khách hàng, cơ quan nhà nước… thì các bạn hoàn toàn có thể yên tâm giao phó “rắc rồi” của bạn cho Chúng tôi.

► Hãy liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ.

 Từ khóa: kinh doanh, liên quan

Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 3 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 3 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Đăng kí tư vấn


Kiến thức pháp luật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây